Đức Naropa (1016-1100 Sau Công Nguyên), một bậc Đại thành tựu giả người Ấn Độ, là Tổ sư sáng lập nên dòng truyền thừa Phật giáo được hoằng truyền rộng rãi và có tầm ảnh hưởng sâu sắc tới nền văn hóa cũng như truyền thống tâm linh của vô số người dân vùng Himalayas, đồng thời vẫn còn giữ nguyên vẹn giá trị và tầm ảnh hưởng cho tới tận thời hiện đại ngày nay. Cuộc đời của Ngài là một tấm gương sáng chói về tinh thần quyết tâm, ý chí kiên cường và nỗ lực tinh tấn trong thực hành tâm linh. Giáo pháp Sáu Yoga của Đức Naropa là một trong những giáo pháp quan trọng nhất của truyền thống Phật giáo Kim Cương Thừa. Những di sản và điển tích về sự thực chứng trong tu hành cũng như thiện hạnh nhập thế cứu độ chúng sinh của Ngài được lưu truyền rộng rãi, vang xa không chỉ trong cộng đồng Phật giáo. Vào đầu thiên niên kỷ thứ hai, Đức Naropa thị hiển đản sinh trong một gia đình hoàng tộc lâu đời. Ngài đã sớm bước chân trên con đường thực hành tâm linh từ nhỏ và sau này được phong làm Hiệu trưởng Đại học Phật giáo Nalanda. Với trí tuệ uyên bác và tài hùng biện sắc bén, Ngài được kính ngưỡng là bậc “Bảo Hộ Trấn Cửa Phương Bắc" của Đại học Nalanda, một danh hiệu rất cao quý. Dù Ngài là bậc biện tài vô ngại, có một lần Đức Varja Yogini đã thị hiện trong hình tướng một bà cụ già xấu xí, chỉ ra rằng Ngài vẫn thiếu trải nghiệm tâm linh qua thực hành, và thúc giục Ngài lên đường tìm kiếm bậc Căn Bản Thượng Sư của Ngài là Đức Tilopa. Trải qua nhiều khó khăn tìm cầu Thượng Sư, Đức Naropa đã phải vượt qua mười hai thử thách lớn và mười hai thử thách nhỏ để tịnh hóa mọi nghiệp chướng cũng như thử thách lòng quyết tâm. Mỗi thử thách vượt qua là một lần Đức Naropa phá bỏ những chấp chước mê lầm, trưởng dưỡng thêm trí tuệ hiểu biết để trực nhận ra chân lý vũ trụ, thể nhập tự tính Kim Cương Trì Vajradhara và đạt tới Thành tựu Giác ngộ Tối thượng. Ngay khi Naropa đạt tới Giác ngộ, chư Dakani từ cõi Thiên đã bay tới cúng dàng Ngài Sáu Sức Trang hoàng. Ngày nay, Sáu Sức Trang Hoàng của Đức Naropa vẫn là những Bảo Vật vô cùng trân quý trong truyền thống Phật giáo, và là những biểu tượng mang giá trị lịch sử của hiện thân bậc Đại thành tựu giả vùng Himalaya. Sau khi đạt Giác ngộ, Đức Naropa đã hoằng truyền rộng rãi những giáo pháp về trí tuệ thực chứng, bao gồm Sáu Pháp Yoga của Naropa (bao gồm Milam – Yoga Mộng, Tummo – Yoga Nội hỏa, Bardo – Yoga Thân Trung Ấm, Gyulu – Yoga Thân Như Huyễn, Osel – Yoga Tịnh Quang, Phowa – Yoga Chuyển Di Tâm Thức), cũng như sự thực hành tâm chí thành. Ngày nay, những giáo pháp này vẫn được tôn kính là những giáo lý cốt tủy của Phật Pháp. Truyền thừa Phật giáo khởi nguồn từ Đức Naropa đã trải rộng với nhiều truyền thống thực hành phổ biến khắp các vùng Ấn Độ, Trung Á và xa hơn nữa. Cuộc đời và giáo pháp của Ngài đã đánh dấu một kỷ nguyên mới của sự hoằng truyền Phật Pháp và ngày nay vẫn còn tiếp tục tỏa rộng ra khắp các vùng thuộc dãy Himalayas và trên thế giới.
Sáu Sức Trang Hoàng bằng Xương của Naropa là một trong những Pháp bảo trân quý và có ý nghĩa nhất trong kho tàng Phật Pháp vẫn còn lưu truyền cho tới ngày nay. Đức Naropa đã từng khoác Sáu Sức Trang Hoàng bằng Xương ngay khi thực chứng Giác ngộ, bởi vậy các Sứ Trang Hoàng này được coi là Bảo Vật lịch sử của nền văn hóa Himalaya. Đại dịch giả Marpa đã được Đức Naropa truyền trao giáo pháp Đại Thủ Ấn và Sáu Pháp Yoga. Nhờ thành tựu viên mãn các Pháp tu này, Ngài Marpa đã thực chứng Đại giác Hoàn hảo Tối thượng. Khi ấn chứng thành tựu của Ngài Marpa, Đức Naropa đã tuyên bố rằng: "Sự gia trì của Thượng sư Krishnacharya đã thổi sức sống cho các truyền thừa ở phía Đông, Đạo sư Aryacharya gia trì cho các truyền thừa ở phía Nam, nhà vua Indrabhodi truyền trao giáo pháp cho các truyền thừa ở phía Tây, còn ta gia trì cho các truyền thừa ở phía Bắc - Miền Đất Tuyết. Con không còn việc gì ở đây nữa, hãy trở về Tây Tạng. Ta trao truyền di sản cho con, trách nhiệm của con phải trông nom Nóc nhà Thế giới- Miền Đất Tuyết, đó là nơi rất nhiều đệ tử có căn cơ đón nhận giáo pháp của ta". Rồi Đức Naropa ban tặng Sáu Sức Trang Hoàng bằng Xương cho Đức Marpa, và huyền ký rằng Sáu Sức Trang Hoàng này sẽ được lưu giữ bởi Truyền thừa bắt nguồn từ Naropa và được kính ngưỡng là biểu tượng khơi nguồn cảm hứng chí thành. Đức Marpa trở thành một bậc Thầy Phật giáo xuất chúng, hoằng truyền giáo Pháp của Đức Naropa rộng rãi khắp muôn phương, và Sáu Sức Trang Hoàng vẫn luôn được tôn vinh là biểu tượng khơi nguồn tâm chí thành. Sau này, Đức Marpa truyền trao Sáu Sức Trang Hoàng của Naropa lại cho bậc Đại Đệ tử là Ngài Ngokton Choku Dorje (1036-1102 sau CN) với lời huyền ký hãy lưu giữ trong bảy đời, sau đó các Pháp bảo sẽ được trao trả về cho chủ nhân đích thực của chúng. Bậc Hộ trì dòng truyền thừa Ngokton đời thứ bảy, Ngài Ngokton Jangchub (1360-1446 sau CN) đã hạnh ngộ Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa và tuyên bố rằng Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa chính là bậc Hóa thân của Đại Thành Tựu giả Naropa, rồi Ngài cúng dàng Sáu Sức Trang Hoàng của Naropa lên Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa. Trong suốt gần một ngàn năm, Sáu Sức Trang Hoàng luôn được tôn kính là Pháp bảo linh thiêng, truyền vô lượng cảm hứng chí thành. Vô số Phật tử tin sâu rằng những ai có đủ căn cơ và thiện duyên có thể đạt giải thoát chỉ nhờ chiêm bái Sáu Sức Trang Hoàng. Sáu Sức Trang Hoàng được cất giữ như Bảo Vật của Lịch sử sống động của vùng Himalaya. Đến nay, cứ 12 năm một lần, Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa lại cử hành Đại Pháp hội trên dãy Himalaya, khoác lên mình Sáu Sức Trang Hoàng để hàng trăm ngàn người dân có tín tâm từ khắp thế giới tụ hội về chiêm bái. Pháp hội thường kéo dài suốt tháng với vô số nghi lễ thực hành theo những truyền thống cổ xưa và linh thiêng nhất vùng Himalaya. Vô số người tới tham dự Pháp hội để kính ngưỡng, chiêm bái, đón nhận ân phúc gia trì, song đối với những hành giả thực hành, đây là dịp để trưởng dưỡng long chí thành, tâm từ bi và tôn vinh nền di sản tâm linh phong phú.
Được tôn kính là chân Hóa thân Quan Âm Đại từ bi, Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa là bậc lãnh tụ tâm linh đứng đầu Truyền thừa Phật giáo Đại thừa Kim cương thừa Drukpa. Còn được biết đến dưới tên gọi Truyền thừa Rồng Thiêng, Truyền thừa Drukpa khởi nguồn từ Ấn Độ cách đây gần 1.000 năm và có tầm ảnh hưởng rộng khắp tại các quốc gia và lãnh thổ trên dãy Himalaya như Ladakh, Nam Ấn, Tây Bengal, Lahaul, Kinnaur, Nepal, Bhutan, Sikkim,... Ngày nay, các trung tâm tu học của Truyền thừa Drukpa tiếp tục được phát triển tại Châu Á (Hồng Kông, Đài Loan, Malaysia, Singapore, Việt Nam), Châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Monaco, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, Ba Lan), Châu Mỹ La tinh (Argentina, Peru, Mexico) và nhiều nhóm thực hành tại Bắc Mỹ. Với hơn 30 năm du hóa truyền giảng Phật pháp trên toàn thế giới, Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đã khởi xướng nhiều dự án nhân đạo, đúng như tôn chỉ phụng sự nhân loại và vũ trụ của Truyền thừa. Tổ chức từ thiện quốc tế Live to Love - Sống để Yêu thương (www.live2love.org) được Ngài sáng lập nhằm mục đích thúc đẩy 5 nhóm việc thiện nguyện: bảo vệ môi trường, cứu trợ, giáo dục, dịch vụ y tế, và bảo tồn di sản. Với những nỗ lực không mệt mỏi vì cộng đồng thông qua các dự án này, Đức Pháp Vương đã được Liên Hiệp Quốc tôn vinh với giải thưởng cao quý “Vì Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ" (tháng 9, 2010). Ngài cũng được đích thân Tổng thống Ấn Độ Smt. Pratibha Patil trao giải thưởng “Anh Hùng Xanh" tại New Delhi, Ấn Độ (tháng 12, 2011). Vào tháng 9 năm 2013, Liên Hiệp Quốc tiếp tục vinh danh Ngài là “Bậc Bảo Hộ của vùng Himalaya" và trao tặng Ngài giải thưởng “South - South Awards" cho những nỗ lực nhân đạo và đóng góp bảo tồn môi trường thế giới. Một trong những dự án tiêu biểu của Ngài là ngôi trường học mang tên Druk White Lotus (Bạch Liên Hoa) ở Ladakh, Ấn Độ. Công trình đã đoạt được rất nhiều giải thưởng quốc tế về thiết kế bền vững, trong đó có 3 Giải Thưởng Kiến Trúc Thế Giới (năm 2002) và Giải Thưởng Thiết Kế Xuất Sắc của Hội Đồng Anh về Môi trường Học đường (năm 2009). Là người ủng hộ mạnh mẽ cho quyền bình đẳng của nữ giới, Đức Pháp Vương đã thành lập Tự Viện Druk Gawa Khilwa ở ngoại ô Kathmandu, Nepal và ở Shey, Ladakh. Tại đây, Ni chúng được hướng dẫn tu tập tâm linh và trao truyền những pháp môn mà trước đây chỉ dành riêng cho tăng chúng. Nổi tiếng với bài tập đồng diễn Kungfu mỗi ngày, chư ni tại tự viện đã được truyền thông quốc tế, bao gồm kênh truyền hình BBC giới thiệu trong một cuốn phim tài liệu dài nói về cách tiếp cận mới trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong xã hội. Truyền thừa Drukpa hiện cũng có số lượng chư Ni đăng ký tu học lớn nhất trong khu vực. Những chuyến hành hương Pad Yatra (bộ hành tâm linh) do Đức Pháp Vương tổ chức hàng năm thu hút hàng trăm người tham gia. Những chuyến bộ hành “vì môi trường" như thế thường kéo dài từ 1 đến 3 tháng và trải qua hàng trăm km. Các thành viên của đoàn sẽ thu gom rác thải nhựa trên đường đi để kêu gọi mọi người bảo vệ môi trường. Năm 2010, các thành viên, tình nguyện viên của Truyền thừa Drukpa đã phá Kỷ lục Guinness Thế giới về trồng cây tại Himalaya trong thời gian ngắn nhất, với 50.033 cây xanh được trồng trong vòng 33 phút. Kể từ năm 2007, khi đất nước Việt Nam lần đầu tiên được phúc đức thắng duyên tiếp đón gót sen của Đức Pháp Vương, Ngài đã 5 lần từ bi quang lâm để cầu nguyện quốc thái dân an, hoằng pháp độ sinh, đồng thời đóng góp trí tuệ và hướng đạo trong việc xây dựng di sản kiến trúc văn hóa Phật giáo, lợi ích cho nhân dân và đất nước Việt Nam. Các giáo pháp và khai thị của Đức Pháp Vương đã được chuyển dịch ra nhiều ngôn ngữ, phát hành rộng khắp trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, nhiều tác phẩm của Ngài đã được biên dịch và phát hành như “Hành trình tâm linh siêu việt", “Mandala, sự hợp nhất Từ bi Trí tuệ trong quan kiến Kim cương thừa", "Bardo - Bí mật Nghệ thuật Sinh tử",… nằm trong Tủ sách Kim cương thừa do Drukpa Việt Nam giới thiệu với đại chúng.
Truyền thừa Drukpa (còn được tôn kính là “Truyền thừa Rồng Thiêng") thuộc về di sản văn hóa Himalaya và cả vùng Trung Á nói chung. Khởi nguồn từ Đức Naropa, Đấng Chiến Thắng Mười Phương, bậc Đại học giả - Đại Thành tựu giả vĩ đại người Ấn Độ (1016-1100), Truyền thừa Drukpa phát triển theo dòng lịch sử Phật Giáo và được hoằng truyền rộng khắp từ Ấn Độ tới các quốc gia Himalaya và vùng Trung Á.
Truyền thừa Drukpa thuộc truyền thống Phật giáo Đại thừa, theo tôn chỉ “giác ngộ vì lợi ích chúng sinh", với các pháp thực hành dựa vào giáo lý Mật thừa được truyền trao trực tiếp từ Đại Thành tựu giả Naropa.
Truyền thừa có tên gọi “Drukpa" (Rồng Thiêng) kể từ thế kỷ thứ 12, khi hóa thân chuyển thế của Đức Naropa là Ngài Tsangpa Gyare (Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ nhất) chứng kiến điềm cát tường chín rồng thiêng cuộn mình phi thiên tại vùng thánh địa Namdruk. Kể từ đó đến nay, Pháp mạch Truyền thừa được trì giữ không gián đoạn và Đức Pháp Vương hiện đời là hóa thân chuyển thế đời thứ 12 của bậc Thượng sư sáng lập Truyền thừa.
Các hành giả Drukpa được tôn kính rộng khắp bởi đức thanh tịnh chân tu cùng những pháp tu trì thâm diệu thành tựu Phật quả ngay trong một đời. Đây cũng là Truyền thừa của lòng Từ bi, lấy tôn chỉ Yêu thương trong Hành động để chữa lành khổ đau thế gian, phụng sự nhân loại và vũ trụ.
Qua dòng lịch sử, giáo pháp Truyền thừa Drukpa - được hoằng truyền theo mạch giao thương của con đường Tơ Lụa huyền thoại đã góp phần thấm nhuần giáo lý Chân Đế trong tư tưởng vô số người dân của những nền văn minh lớn, bao trùm phạm vi địa lý của những nơi ngày nay là Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Trung Quốc, Mông Cổ, Sri Lanka, Myanmar…
Ngày nay, Truyền thừa Drukpa phát triển rộng khắp vùng Himalaya, đặc biệt ở Ladakh, Kinnaur, Ahaul-Spiti ở Ấn Độ, cũng như Bhutan và Nepal. Vương quốc Bhutan, có tên gọi “Druk Yul" hay “miền đất Rồng Sấm", còn tôn vinh Truyền thừa Drukpa thành Quốc Giáo. Không những vậy, giáo pháp Truyền thừa còn được thực hành rộng khắp tại nhiều quốc gia, châu lục trên thế giới.
Tháng 5/2014, Cục Bưu Chính – Chính Phủ Ấn Độ tôn vinh những đóng góp quý giá của Truyền thừa Drukpa vào di sản văn hóa vùng Ấn Độ - Hymalaya qua việc phát hành bộ tem kỷ niệm ngày Tam Hợp của Đức Phật với chủ đề Truyền thừa Phật giáo Drukpa.